Nâng cao chất lượng hoạt động công vụ ở Việt Nam hiện nay

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tạo động lực thực sự để thực thi công vụ nhiệm vụ có chất lượng và hiệu quả, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay. Việc xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức là cơ sở để đưa ra các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay.

0

Ảnh minh họa

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về công vụ. Có quan điểm coi “Công vụ bao gồm các cơ quan khác nhau của Chính phủ, như các bộ, ngành, các tổ chức doanh nghiệp, các tập đoàn và doanh nghiệp của Chính phủ là các cơ quan chịu trách nhiệm về việc tạo điều kiện và thực thi pháp luật, chính sách công và các quyết định của Chính phủ”(1). Có quan niệm lại cho rằng “Công vụ bao gồm toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở hay một công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được thực thụ vào một trong những ngạch của nền hành chính công. Những người thuộc hệ thống công vụ này mang đầy đủ tư cách của một công chức”(2). Trong cuốn Thuật ngữ Hành chính có quan niệm: “Công vụ là thuật ngữ để chỉ một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước (gắn với nhà nước hoặc nhân danh nhà nước) do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội”(3). Như vậy, công vụ gắn chặt với nền hành chính nhà nước và đội ngũ công chức, từ đó có thể hiểu “Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội”(4). Do đó, muốn nâng cao chất lượng hoạt động công vụ cần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và nền hành chính.

Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định: công chức Việt Nam là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế, giữ một công vụ thường xuyên, hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; trong các cơ quan, đơn vị quân đội (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); trong các cơ quan, đơn vị công an (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân các cấp (Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện Kiểm sát nhân dân; tổ chức chính trị – xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập…

Như vậy, hoạt động của công chức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến “bộ mặt” của nền hành chính quốc gia và hiệu quả hoạt động công vụ. Do đó, chất lượng hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động công vụ trên lĩnh vực và địa bàn mà họ được phân công phụ trách. Nền hành chính nhà nước có hoạt động thông suốt, đồng bộ, hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động công vụ của đội ngũ CBCC này.

Phần lớn đội ngũ CBCC nước ta đ­ược rèn luyện, thử thách trong quá trình đấu tranh cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; tận tâm thực hiện chức năng, nhiệm vụ được phân công phụ trách và đảm nhiệm. Trước những khó khăn do khủng hoảng kinh tế thế giới, tác động do sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, trư­ớc những âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phần lớn CBCC ở nước ta vẫn vững vàng, năng động, sáng tạo, góp phần xây dựng nền hành chính Việt Nam ngày càng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đa số CBCC các cấp giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t­ư”, hết lòng vì nhân dân phục vụ, tích cực đấu tranh chống quan liêu, chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; đấu tranh với lối sống thực dụng, lối sống trái với đạo đức truyền thống của dân tộc, giữ gìn đoàn kết, gắn bó với nhân dân, có tác phong chuẩn mực phục vụ nhân dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư (Khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đánh giá: “Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng,..”(5). Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng nhận định: “Nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, đổi mới lề lối làm việc; nghiêm khắc với mình hơn, giữ gìn đạo đức, lối sống; bước đầu tự sửa chữa khuyết điểm, tự điều chỉnh hành vi và các hoạt động trong công tác và trong cuộc sống của mình, của gia đình, vợ, chồng, con và người thân. Bước đầu kiềm chế, ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lãng phí”(6). Tuy nhiên, như Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XII cũng đánh giá “tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”(7). Thực trạng này đã làm giảm hiệu quả hoạt động của nền hành chính Việt Nam. Nguyên nhân có nhiều, nhưng nguyên nhân chủ quan cơ bản là “Một số cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân”(8). Do vậy, chất lượng CBCC vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần bãi nhiệm những CBCC vi phạm tư cách, vi phạm những quy định của Đảng và Nhà nước về phẩm chất đạo đức, tư cách, lối sống để lấy lại niềm tin của nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, CBCC phải là những tấm gương sáng về đạo đức công vụ, có ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân. Phải “Thực hiện nghiêm quy chế thôi chức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Kịp thời thay thế cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút. Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương”(9).

Thứ hai, thực hành dân chủ rộng rãi trong công tác cán bộ. Thực hiện nghiêm túc tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng về xây dựng đội ngũ CBCC: “Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới”(10) CBCC phục vụ nhân dân trên lĩnh vực và địa bàn phụ trách theo thẩm quyền, do vậy, khi bổ nhiệm CBCC nên thăm dò ý kiến không chỉ của cán bộ cấp dưới mà cần tham khảo rộng rãi trong nhân dân trên địa bàn. Ý kiến tham khảo càng đa dạng thì càng có cơ sở đánh giá chính xác, bởi quần chúng là tai, mắt và trực tiếp giám sát CBCC. Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cần “thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý”(11). Dân chủ trong công tác cán bộ đòi hỏi phải công khai, minh bạch từ quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc, bổ nhiệm,… tránh lợi dụng việc điều động CBCC không đủ năng lực, phẩm chất ở địa phương này sang phụ trách ở địa phương khác làm tổn hại tới danh dự, uy tín của Đảng, Nhà nước, giảm chất lượng CBCC và hiệu quả của nền hành chính quốc gia.

Thứ ba, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, quản lý CBCC. Thực tế cho thấy, công tác giám sát, kiểm tra, quản lý còn có những bất cập. Vì vậy văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã yêu cầu: “hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính”(12). Giám sát, kiểm tra, quản lý CBCC bao gồm nhiều khâu từ phẩm chất đạo đức đến việc thực thi công vụ. Nếu làm tốt công tác giám sát, kiểm tra, quản lý CBCC sẽ giảm thiểu tình trạng CBCC khai man tuổi, khai man thời gian đi học tập, kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, không chấp hành tốt quy định ở khu dân cư, v.v.. Mặt khác, CBCC là đảng viên phải thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Thực tế cho thấy, nhiều CBCC là đảng viên không dự các cuộc họp tổ dân phố, thường là cử vợ, con, cha, mẹ đi họp thay. Dân cư ở tổ dân phố không biết những CBCC là đảng viên này làm gì, ở cơ quan nào. Do vậy, phải có cơ chế, chính sách để mỗi CBCC phải được quản lý bởi tổ chức, đoàn thể, cán bộ và nhân dân ở nơi cư trú. Muốn vậy, phải đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thực hiện dân chủ trong Đảng; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong kiểm tra, giám sát CBCC theo đúng chức năng và thẩm quyền của mỗi cơ quan. Biện pháp quản lý cán bộ đảng viên hiệu quả là “định kỳ lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên”(13). Nếu CBCC là đảng viên được lấy ý kiến nhận xét của nhân dân (02 lần/năm) về tư cách, đạo đức mà không đạt yêu cầu thì cương quyết bãi nhiệm, thay thế. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Qua đó, nâng cao hiệu quả giám sát, kiểm tra, quản lý CBCC.

Thứ tư, nhân rộng những tấm gương CBCC tiêu biểu vì nhân dân phục vụ, đồng thời phê phán những hiện tượng xa rời nhân dân. Trong công cuộc đổi mới đất nước đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng của những CBCC hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Do vậy, phải biểu dương, khen thưởng kịp thời, đúng lúc nhằm tạo nên động lực to lớn góp phần củng cố, nâng cao sức mạnh của Đảng, Nhà nước. Nếu CBCC, nhất là CBCC lãnh đạo thực sự là những tấm gương sáng về mọi mặt thì quần chúng nhân dân sẽ hết lòng, hết sức bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước. Làm tốt công tác này sẽ góp phần tạo tâm lý tin tưởng vào xu hướng tiến bộ và làm cho bản thân CBCC cũng phải tự cố gắng phấn đấu vươn lên.

Thứ năm, phát huy vai trò tự giác của mỗi CBCC trong việc tự học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Do vậy, để nâng cao được chất lượng CBCC phải động viên, cổ vũ, khích lệ tính tự giác, tích cực của CBCC trong học tập, phấn đấu rèn luyện. CBCC phải thể hiện trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng, Nhà nước và trước nhân dân bằng việc tự giác, tích cực phấn đấu rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đồng thời phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại với dân để hiểu được tâm tư, nguyện vọng của dân. Những gì có lợi cho dân mà không vi phạm pháp luật thì dù nhỏ đến đâu cũng phải cố gắng làm cho bằng được. Những gì dù là nhỏ mà có hại cho dân thì kiên quyết phải khắc phục.

Đối với việc nâng cao chất lượng nền hành chính nhà nước, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của nền hành chính nhà nước theo tinh thần Đại hội lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Trung ương lần thứ sáu khóa XII. Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ – pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước(14). Trên cơ sở đó, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội của CBCC, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, đẩy nhanh việc áp dụng chính quyền điện tử. Đồng thời, xác định rõ thẩm quyền trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi cấp chính quyền theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Thứ hai, phải thực hiện cho được mục tiêu của Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020: đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ. Trong đó, tập trung thực hiện các trọng tâm cải cách hành chính: cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để CBCC thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công. Đồng thời, khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện; gắn kết chặt chẽ công tác cải cách hành chính giữa các bộ, ngành và địa phương; tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của cải cách hành chính để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

Ghi chú:

(1) Từ điển Hành chính công, Nxb Juta và Co.ltd Nam Phi, H.1996, tr.20.

(2) Trường Hành chính quốc gia, Mấy vấn đề công vụ và công chức Cộng hòa Pháp, H.1994, tr.4.

(3) Viện nghiên cứu hành chính, Thuật ngữ Hành chính, Học viện Hành chính, H.2009, tr.72.

(4) Học viện Hành chính quốc gia, Giáo trình Hành chính công, Nxb Thống kê, H.2006, tr.247.

(5),(8) Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb CTQG, H.2012, tr.22, tr.26.

(6),(10),(11),(12),(14) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.183, tr.180, tr.180, tr.180-181, tr.178.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016, tr.22.

(9),(13) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG – ST, H.2011, tr.261-262, tr.258.

(14) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2016; tr.178.

BÌNH LUẬN

Xin nhập bình luận của bạn!
Xin nhập họ tên của bạn